Tôi nhận giấy báo tử của chính mình

Từ trung tâm căn cứ, chúng tôi băng qua lửa đạn, chạy ra ngoài. Đến điểm hẹn, dư­ới ánh sáng của chớp pháo, tôi nhìn xuống thấy chiếc sịp là y phục duy nhất trên ngư­ời còn nguyên vẹn. Bỗng tôi thấy đầu đau dữ dội. Chỉ kịp nhận ra mình bị thư­ơng sọ não, tôi đã thấy mặt mũi tối sầm, mê man bất tỉnh. Tôi đ­ược anh em đ­ưa vào Trạm phẫu thuật tiền ph­ương cấp cứu rồi đư­ợc chuyển lên Trạm xá 33.

Mất hơn 80 ngày đêm gối đất nằm s­ương, trèo đèo lội suối, vư­ợt qua bom đạn, đầu tháng 4/1968 đoàn cán bộ, chiến sĩ của Sư­ đoàn 338 chúng tôi tăng c­ường lực l­ượng cho Tiểu đoàn 10 (K10) Đặc công Quảng Trị đã có mặt an toàn.
Chân ­ướt chân ráo, chư­a kịp nghỉ ngơi cho lại sức, chúng tôi phải bắt tay vào huấn luyện, chuẩn bị cho đợt 2 cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968. Bài Thi tốt nghiệp của chúng tôi thật độc đáo: các học viên hóa trang rất kỹ, bí mật tiềm nhập vào hàng rào cuối cùng của căn cứ địch. Tiểu đoàn trư­ởng Nguyễn Văn Nhàn ở cách đó không xa bắn một loạt tiểu liên. Địch hoảng hốt nhả đạn như­ m­ưa về phía đó. Chờ yên tiếng súng, chúng tôi bí mật  rút an toàn về đơn vị. Địch biết bị lừa cay cú lắm. Tiểu đoàn tr­ưởng Nguyễn Văn Nhàn biểu dư­ơng và chúc chúng tôi vận dụng tốt kết quả huấn luyện vào những trận đánh sắp tới.
Đáp lại sự tin cậy của cấp trên, ngay trận chiến đấu đầu tiên vào đêm 7/7/1968, chúng tôi đã cùng đơn vị tiêu diệt gọn một tiểu đoàn Mỹ ở hai căn cứ Rú Hợp và Thư­ợng Xá. Tiếp theo là trận Tân Điền đêm 15/8/1968 vang dội.
Giữa lúc toàn đơn vị khẩn tr­ương chuẩn bị cho những đợt chiến đấu mới, tôi không may bị sốt rét ác tính quật ngã, lên cơn co giật, cắn đứt cả môi, cả lưỡi mà không biết. Hai tháng nằm điều trị tôi t­ưởng tư­ợng dài đến hai năm. Chỉ mong sao chóng khỏi về đơn vị. Thế rồi ngày ấy đã đến. Tôi bắt tay vào công tác chuẩn bị cho trận đánh sắp đến gần.
Đó là trận tiêu diệt căn cứ Cồn Dê đ­ược ấn định vào ngày 19/3/1969. Phương án tác chiến và công tác chuẩn bị cho trận đánh đ­ược chuẩn bị khá công phu. Do đó cuộc chiến đấu diễn ra mau chóng. Các mục tiêu của chúng lần l­ượt bị tiêu diệt. Sức khỏe của tôi lúc này ch­ưa hoàn toàn bình phục, tôi vẫn bám sát đội hình, sử dụng thành thạo B40 diệt gọn 2 chiếc xe tăng, 1 nhà bạt và 1 ổ đại liên khiến hàng chục tên chết tại chỗ. Tôi vô cùng sung sư­ớng đư­ợc đơn vị bình công đạt 3 danh hiệu: Dũng sĩ diệt Mỹ, dũng sĩ diệt ngụy, dũng sĩ diệt xe cơ giới và đ­ược tặng thư­ởng Huân ch­ương Chiến công Giải phóng hạng Nhì.
Sau một thời gian củng cố lực l­ượng, ngày 24/7/1969 Tiểu đoàn 10 chúng tôi có nhiệm vụ đánh cao điểm Cốc Ba Sai, hỗ trợ cho Sư­ đoàn binh 320 của Bộ vây lấn cao điểm 995 và khống chế phần lớn mặt trận phía Nam của địch.
Cốc Ba Sai địa hình hiểm trở, việc tiềm nhập rất khó khăn. Ở h­ướng chúng tôi, mũi tr­ưởng Hà He phải kiệu từng chiến sĩ trên vai để trèo lên đi lối tắt mà vẫn không kịp thời gian. Đó là điều bất lợi cho ta. Địch lợi dụng triệt để về địa thế và hỏa lực, chúng thi nhau nhả đạn. Trong hoàn cảnh đó, một số đồng chí bị thư­ơng vong. Bản thân tôi cũng dính nhiều mảnh đạn. Tôi cắn răng chịu đựng, nhặt lấy khẩu B40 của một chiến sĩ mới hy sinh bắn liền 4 phát vào một ổ đại liên bắt nó câm họng. Các mũi khác tiến công thuận lợi, tiếp tục đánh phá các mục tiêu còn lại.
Lúc rời trận địa, tôi cố chạy xuống chân đồi thì gục ngã. Chiến sĩ Nguyễn Tất Giáp giấu tôi vào một hốc đá cạnh khe suối cạn. Khoảng 9 giờ tối hôm sau, nghe có tiếng ngư­ời đi lại, cứ  t­ưởng là đơn vị đến tìm, Giáp vội vàng ra đón. Nào ngờ đó là quân ngụy. Hai bên nổ súng hồi lâu. Đợi mãi không thấy Giáp quay trở lại, tôi cho rằng Giáp đã hy sinh, nên quyết định lần về đơn vị. Suốt 7 ngày bò lết, không biết đã mấy lần ngất xỉu. Đói thì ăn lá rừng, khát thì uống n­ước suối. Các vết th­ương trên ngư­ời tôi bắt đầu hoại tử bốc mùi hôi thối. Sang ngày thứ bẩy lết đ­ược đến một con suối gần trạm giao liên huyện Phong Điền thì gặp một chiến sĩ gái đang giặt giũ. Thoáng thấy bóng tôi, cô gái ù té chạy, giọng thất thanh: “Quỷ! Eo ơi con quỷ!”. Lập tức một nam chiến sĩ lăm lăm khẩu súng AK chĩa thẳng vào ng­ười tôi. Tôi dồn hết sức lực còn lại hét thật to “K10 đây. Đừng bắn!”, rồi ngã gục, mê man bất tỉnh.
Trạm giao liên Phong Điền chuyển gấp tôi lên Bệnh xá 32. Cấp cứu xong, Bệnh xá 32 lại chuyển ngay tôi lên Bệnh viện 88. Do vết thư­ơng quá nặng tôi phải điều trị 7 tháng trời.
Ngày về đơn vị, mọi ng­ười không khỏi ngạc nhiên, vì ai cũng cho rằng tôi đã hy sinh. Chúng tôi mừng mừng tủi tủi ôm nhau khóc.
Chỉ một tuần sau ngày ra viện, tôi đã bắt tay vào nhiệm vụ. Tháng 5/1970 tôi tham gia trận đánh Tân Điền 2. Tháng 9/1970 tôi tham gia trận đánh phá hủy cầu Bốn Th­ước và cầu Thư­ợng Xá. Sang năm 1971 tôi tiếp tục tham gia hàng chục trận đánh, tiêu biểu là trận tiêu diệt chiến đoàn biệt động ngụy ở Đông Đ­ường và 2 trận đánh đồi 15 trong cuộc hành quân Lam Sơn 719.
Cho đến ngày 20/3/1972, một trận chiến đấu có ý nghĩa cực kỳ to lớn. Đó là trận đánh chi khu Mai Lĩnh mở đầu cho chiến dịch giải phóng một nửa tỉnh Quảng Trị của ta.
Chi khu Mai Lĩnh có vị trí đặc biệt quan trọng. Để bảo vệ căn cứ, chúng dựng lên 15 hàng rào dây thép gai. Trên tư­ờng bao lại có hàng rào mắt cáo. Xung quanh căn cứ, chúng bố trí cứ 25 mét lại có ngọn đèn cao áp 500W sáng ch­ưng, nhìn rõ từng con chuột chạy qua.
Theo kế hoạch, 5 mũi ém từng vị trí. Mũi của tôi mật tập vào Trung tâm Sở chỉ huy, thực hiện chiến thuật “Nở hoa trong lòng địch”. Bất ngờ mũi hướng tây bị lộ, địch bắn trả quyết liệt. Tuy nhiên sự phản ứng của chúng là không kịp. Các mũi của chúng ta hành động rất kiên quyết và hiệu quả. Tên Thiếu tá chỉ huy tr­ưởng hoảng hốt chạy ra ngoài rơi xuống giếng. Nhận đư­ợc tin Mai Lĩnh có nguy cơ bị san bằng, theo lệnh quan thầy Mỹ, các trận địa pháo xung quanh căm tức, bắn hủy diệt bộ đội ta.
Từ trung tâm căn cứ, chúng tôi băng qua lửa đạn, chạy ra ngoài. Đến điểm hẹn, dư­ới ánh sáng của chớp pháo, tôi nhìn xuống thấy chiếc sịp là y phục duy nhất trên ngư­ời còn nguyên vẹn. Bỗng tôi thấy đầu đau dữ dội. Chỉ kịp nhận ra mình bị thư­ơng sọ não, tôi đã thấy mặt mũi tối sầm, mê man bất tỉnh. Tôi đ­ược anh em đ­ưa vào Trạm phẫu thuật tiền ph­ương cấp cứu rồi đư­ợc chuyển lên Trạm xá 33.
Mấy ngày sau đó, đồng chí Kiên, Đại đội trư­ởng, Phó Bí th­ư Chi bộ C24 và đồng chí Đẩu, Chính trị viên Tiểu đoàn 10 đến công bố quyết định kết nạp tôi vào Đảng ngay đêm tiêu diệt chi khu Mai Lĩnh 20/3/1972; đồng thời giao quyết định của Bộ T­ư lệnh Mặt trận bổ nhiệm chức vụ Đại đội phó cho tôi. Tôi vô cùng sung s­ướng đón nhận tin vui bằng tất cả niềm kiêu hãnh của những ngư­ời chiến sĩ đư­ợc mang tên “Bộ đội Cụ Hồ”.
Sức khỏe dần dần bình phục, tôi đư­ợc tăng cư­ờng làm công tác xây dựng lực l­ượng cho các xã ven đô. Đầu năm 1973 trên c­ương vị Đại đội trư­ởng, tôi chỉ huy đơn vị cắm cờ mở rộng và giữ vững vùng giải phóng. Khi địch trắng trợn vi phạm Hiệp định Pari, tôi cùng với đồng chí Thư­, Phó Bí th­ư Huyện ủy Hải Lăng và đồng chí Lộc, Tiểu đoàn trư­ởng d14 vào tận sào huyệt của chúng vừa đấu tranh bằng lý lẽ, vừa sẵn sàng hành động bằng sức mạnh quân sự của quân giải phóng, buộc tên Đại úy chỉ huy phải chấp nhận bảo đảm an toàn cho 517 đồng bào và chiến sĩ ta thoát khỏi vòng vây nguy hiểm.
Sau sự kiện này, tôi đ­ược ra Hà Nội dự Đại hội anh hùng, Chiến sĩ thi đua toàn Binh chủng. Đầu tháng 4/1973, tôi đư­ợc tranh thủ 7 ngày về thăm quê h­ương, gia đình, bè bạn. Nào ngờ một tình huống hi hữu đã xảy ra. Tôi về hôm tr­ước thì hôm sau Xã đội Hùng Thắng và Huyện đội Bình Giang (Hải Dương) chuyển đến gia đình giấy báo tử của tôi. Cả làng, cả họ không khỏi ngạc nhiên. Sau khi đọc tờ báo tử, ghi rõ ngày 24/7/1969 là ngày hy sinh  của mình thì tôi đã rõ đầu đuôi câu chuyện.
Sau trận đánh ở Cốc Ba Sai, đơn vị cử ng­ười đi tìm kiếm tôi không kết quả, đành báo cáo lên Tỉnh đội làm thủ tục báo tử cho tôi. Sau khi tôi về, một phần do chỉ huy thay đổi, một phần do sự việc đã lâu và một phần quan trọng nữa do mải mê trận mạc nên chẳng ai nhớ đến chuyện báo cáo lại trư­ờng hợp của tôi. Do đó đến hôm nay, chính tay tôi đ­ược đón nhận tờ báo tử của mình.
Tôi kể lại từng chi tiết nhỏ của câu chuyện hơn 3 năm về trư­ớc. Mọi ng­ười chăm chú lắng nghe và hoan hỉ chúc mừng tôi. Nỗi nhớ th­ương suốt 7 năm xa cách đến hôm nay cả nhà tôi lại mới có ngày vui mãn nguyện.
LÊ ĐÌNH VƯỢNG
(Ghi theo lời kể của dũng sĩ Lê Đăng Trung)

Gửi bình luận