Ngọn lửa Thành phố Mỏ-Trường ca của Lê Xuân Nguyện

I. TĂM TỐI

Kính tặng công nhân cán bộ vùng mỏ Cẩm Phả

Nơi con thuyền sớm tối ra đi

Mỗi cánh buồm một linh hồn của biển

Những ước mơ chập chờn sóng lượn

Lòng hóa thành hạt muối mênh mông

Nước mưa nguồn đổ xuống dòng sông

Nước dòng sông đổ về biển cả

Dù có trăm bến bờ xa lạ

Cũng hóa thành con sóng dâng cao

***

Tấm thân gầy bò dưới hầm sâu

Là đáy huyệt của ngày đang sống

Làm xe goòng gắn vào lưng mê thúng

Hòn than đè số kiếp cu ly

Miếng cơm ăn chủ nhất, chủ nhì

Lũ Đi- Toa và tên Be - Sắc (1)

Gạo cơm mục trộn mặn dòng nước mắt

Manh áo quần chằm vá thương đau

Chúng làm gì đâu mà ở lầu cao

Mà rượu thịt, mà cơm thơm gạo trắng

Mà dâm loạn, mà phấn son sắc thắm

Đất nước này là của chúng đâu?

Ôi bốn mùa mưa nắng tầng cao

Tấm bao tải che thân khô rồi lại ướt

Mặt trời đi, mặt trời về chẳng biết

Đâu là ngày năm tháng lê thê

Thân xác gầy roi vọt tái tê

Cả một bầy Sy - Mông, Mắc - Ti - Nê, Gút chia, Bẩy, Chi (2)

Đất nước đen bóng hình ma quỷ

Đuổi chúng đi không phải những lá bùa ...

(1) (2) những cái tên cai ký giám thị thời Pháp

II. LỬA

Sống phè phỡn chủ mỏ đêm khuya

Rượu thịt bia lũ kai, lũ ký

Nền lán trại người làm thuê trăn trở

Đêm nặng nề những dự định mênh mông

Tiếng giày đinh rộn rạo sục lùng

Những tia mắt đảo điên ma quái

Chúng hốt hoảng nhìn truyền đơn vừa rải

Lá truyền đơn như một mảnh đời

Lá truyền đơn như một khoảng trời

Tia hi vọng xanh tươi sắc mới

Chúng xám mặt nhìn cờ bay trên đỉnh núi

Lá cờ hồng - ôi ngọn lửa thiêng (3)

 

***

Dậy lên rồi tiếng gọi "Anh em ơi"

"Phá sạch xiềng gông giành lấy mỏ"

Những tù lao cuộn mình nứt đổ

Và xích xiềng tung khỏi triệu bàn chân

***

Một khối người, một khối non sông

Một khối lửa dội lên đầu chúng nó

Ta nắm tay nhau nợ máu này phải trả

Miếng cơm này - Cuộc sống tự do

Xích lại gần nhau anh em ta

Những vai gầy, những nắm tay đen sạm

Những mắt sâu vút lên ngàn tia sáng

Và giáo gươm phanh trả nở này

Đống rơm quyền chủ mỏ xác xơ bay

***

Tháng mười một ơi người làm thuốc nổ (4)

Anh em ta kết lại thành ngòi

Ôi cờ bay cờ bay

Những ngôi sao xòe như sắc lửa

Nổ tung lên trên mảnh đất này.

(3) Ngày 12/11/1936 lá cờ của Đảng được cắm trên núi Bài Thơ Hòn Gai

III. ĐỐT CHÁY

Những đàn chim bay về nơi đâu?...

Rừng xanh ngàn năm mù lên trắng mầu

Bầu trời rợp bay những đàn chim lạ

Những bầy chim gầm rú thét gào

Những bầy chim của nền công nghiệp hiện đại

Nước Mỹ ơi mấy trăm năm trí tuệ

Đẻ ra những bầy thú giết người

 

Đàn chim rừng hốt hoảng bay đi

Không còn rừng xanh để chim hót vui cùng người

Không còn đất lành để chim ủ tiếng kêu, giọng hót

Cho xanh tươi, cho đời mãi sinh sôi...

 

Giữ lấy giống nòi

Giữ lấy tiếng ca con họa my hồn của rừng thẳm

Giữ lấy bản hòa tấu Chim Công

Sắc màu tươi thắm

Múa xòe bên những ban thờ

Bay đi đàn con chim trĩ

Long lanh, mắt phượng, mày ngài

Chim Trĩ, Chim Công

Khi nào trở lại?...

Bao đêm tàn nghĩ mãi

Chọn hòn than đẹp nhất gương lò

Trong tâm trí anh

Chim Trĩ, Chim Công như đang vỗ cánh

Tượng tạc xong, ánh than lấp lánh

Bay trong tim, Thành phố thợ lò

***

Ôi Miền nam lá phổi nghẹn chất độc da cam

Nghẹn nấc tháng ngày khói bom mù mịt

Trái tim Việt Nam đập căng từng nhịp

Máu không thể ngăn, máu cách chia dòng

Miền Bắc vạn triệu tấm lòng

Dựng lên những pháo đài đánh Mỹ

Mở dọc Trường Sơn hướng quân thù phía trước

Tiếng Nguyễn Viết Xuân "nhìn thẳng đầu thù mà bắn"

Một cân than hướng về đích cháy lòng

Đến triệu tấn than

Ngàn triệu tấn than

Những chiến dịch Đắc Tô, Áp Bắc.

Bà Rịa, Long Châu Hà miền Tây đất Bắc

Những đồn thù Mỹ ngụy miền Nam

Thành đường lò, Công trường đất bắc

Triệu tấn than - những trăm ngàn tên giặc

Bãi mìn rung lên, máy xúc chao cần

Như đại bác tìm hướng quân thù nhả đạn

Công trường than bốc giỡ từng ngày

Chiến trường đổi thay cách đánh

"Sản xuất than như quân đội đánh giặc"

Bác ơi chúng con nghe lời Bác

Chỉ bảo chúng con cách đánh trận này

***

Cây đau cho chim đậu

Rừng đâu cho chim làm tổ

Ôi tiếng gọi đại ngàn

Đất rừng phương nam

Ngập chìm trong bom đạn

Hậu phương đất Bắc

Vợ tiễn chồng lên đường đánh giặc

Những chuyến tàu vào Nam

Mẹ tiễn con đi, vùng than chia đôi một nửa

Nửa ở lại đảo than

Nửa vào Nam đánh Mỹ

***

Binh đoàn than những đứa con thợ mỏ

Như ngọn gió Đông Bắc thổi vào

Chiến trường ào ào bão tố

Chiến trường bốc cao ngọn lửa

Ngọn lửa than ngàn độ cháy ngời ngời

Không kịp trao nắm cơm trộn mỳ, trộn mạch

Những con đường xuyên bộ

Sáu tháng vào Nam

Để rồi "Chỉ còn cái lai quần cũng đánh" *

Cái lá, cái cây, khu rừng, mảnh đất

Con chim, hòn than cũng sống căm thù

 

Mảnh đất Việt, hòn than Việt

Thấm vào máu xương

Mồ hôi nước mắt

Thấm vào nhân nghĩa bao đời

Ngọn lửa than chơi vơi

Bừng cháy lên từ năm 36 (1936)

Cho đến hôm nay.... (1975)

Cuồn cuộn trong từng tia máu

Máu lửa thét gào lên đốt cháy kẻ thù.

* Lời của chị Út Tịch anh hùng lực lượng vũ trang miền Nam Việt Nam..

IV. TIẾNG CHIM HÓT TRONG BÃO LỬA

Tiếng bom rền lửa cháy

Làm sao ngăn bước ta

Cả miền Nam thúc dục

Miền Bắc dậy từng nhà

***

Lửa cháy trong giáo án

Vùng kinh tế gọi ta

Ta cần bao súng đạn?

Giữ lấy nước, lấy nhà

***

Ta cần bao súng đạn

Nổ vào mặt kẻ thù

Ta cần bao giầy dạn

Hạnh phúc này thiên thu

***

Ta từ giã giảng đường

Miền Nam lửa đang cháy

Trời Đông bom rền vang

Kẻ thù ta nhìn thấy

***

Mỹ ném bom Ninh Bình

Mỹ ném bom Kim Liên

Chặn đường quốc lộ I

Giặc Mỹ đang cuồng điên

***

Chúng chặn đường miền Bắc

Đường tiếp viện vào Nam

Chúng chặn đường anh em

Sinh cùng dòng máu Lạc

***

Đất nước đi đánh giặc

Từ thủa có Vua Hùng

Nước Mỹ đi cắm đất

Ngày thế giới đêm đông

Làm sao mà hiểu được

Một dân tộc, một lòng

***

Quần lửa bùng lên sau tiếng nổ nặng nề

Đất đá tung trời cát bụi

Mặt đất ào ào chảy trôi như suối

Bãi mìn mù bay

Những đoàn xe vào ra đêm ngày

Máy xúc cần quay chóng mặt

Ôi… bãi vàng đen, lộ phơi trên đất

Lộ bao nhiêu súng đạn đất trời cho…

***

Những đoàn xe đi trong tiếng nổ âu lo

Chở ngàn tấn than về kho bãi

Chở vạn tấm lòng, xum họp lại

Trận chiến này, trận chiến vinh quang.

***

"Trận chiến này có sức mạnh trăm năm".

VI. KHÚC KHẢI HOÀN

Đất nước này dáng hình như bó đuốc

Thắp sáng bốn ngàn năm

Nơi con nằm, miếng cơm con ăn

Có ngọn lửa soi của năm ba sáu (1936)

Nơi con đổ giọt mồ hôi

Mảnh đất xưa đổ máu

Những cuộc đình công

Máu đổ xuống đất này

Máu nhuộm lá cờ ngôi sao năm cánh

Thấm vào những tấm huân chương lấp lánh

Những móng xây biệt thự

những lâu đài

Thành phố dựng lên không đợi tương lai

Quá khứ đã xây trong lòng thợ mỏ

Những khát vọng dâng thành bão tố

Những lớp người như sóng triều dâng

Thế hệ này tiếp nối đi lên

Lịch sử sang trang nợ nần khắc cốt

Máu đổ máu, thép từng đòn trả thép

Dân tộc này, nhân nghĩa công minh

Vùng than đi qua ba cuộc chiến tranh

Thế giới còn những nơi giá rét

Hòn than đi sưởi ấm tim người

Những tấn than chật chội khoang đời

Ôi đất mỏ niềm vui xuất giá

Bao năm đi trong hối hả

Hoa và cờ dâng đến ga vui

***

Thành phố bừng lên sức sống con người.

 

 

 

Hoàn thành tháng 10 năm 2011

Tại phường Cẩm Đông - TP. Cẩm Phả

Gửi bình luận