Đọc và chia sẻ

Phát hiện mới về bài thơ của Lê Thánh Tông trên núi Thuyền Đăng

(Ngày đăng: 10/8/2017 4:55)

     Tác giả Vũ Anh Tuấn năm nay 90 tuổi, nguyên Phó Giám đốc Công ty than Uông Bí. Bài nghiên cứu dưới đây của ông về bài thơ Đức vua Lê Thánh Tông khắc trên vách núi truyền đăng 1468 đến nay đã 549 năm mà các bản ghi chép lại từ cổ chí kim, từ trung ương đến địa phương đều còn nhiều chữ sai sót.


Tác giả Vũ Anh Tuấn

 ĐI TÌM CHỮ NGHĨA CỦA MỘT BÀI THƠ CỔ 550 TUỔI

GẶP BẢN TUYÊN CÁO CỦA VUA LÊ THÁNH TÔNG (1468)

 

I - Giới thiệu chung

Bài viết không có đầu đề như trên sách báo hiện nay ghi chép, có sách ghi chép phần thơ, có sách ghi chép cả phần văn và thơ.

Bài văn thơ Lê Thánh Tông có 2 phần:

- Phần văn xuôi có 49 chữ nói rõ thời gian, sự việc, địa điểm và tác giả.

- Phần thơ theo thể thơ Đường loại 7 chữ, 8 câu, toàn bài có 56 chữ.

Hai phần liên quan khăng khít bổ sung cho nhau không thể tách rời ra được, phần phiên dịch chữ Hán như sau :

Quang Thuận cửu niên xuân, nhị nguyệt, dư thân xuất lục sư duyệt vũ vu Bạch Đằng giang thượng. Thị nhật phong hoà, cảnh lệ, hải bất dương ba, nãi phiếm Hoàng Hải tuần An Bang, trú lục sư vu Truyền Đăng sơn hạ, ma thạch nhất luật vân : 

Cự tẩm uông dương triều bách xuyên,

Loạn sơn kỳ bố bích liên thiên.

Tráng tâm sơ cảm hàm tam cổ,

Tín thủ giao đề tốn nhị quyền.

Thần Bắc khu cơ sâm hổ lữ,

Hải đông phong toại tức lang yên.

Thiên Nam vạn cổ hà sơn tại,

Chính thị tu văn yển vũ niên. 

II - Bản văn thơ chữ Hán

 

 

Bản dịch bài tuyên cáo.

 Tháng 2 mùa xuân năm Quang Thuận thứ 9, trẫm thân dẫn sáu sư tập trận trên sông Bạch Đằng. Những ngày đó, gió êm cảnh đẹp, biển không nổi sóng, bèn lướt thuyền qua Hoàng Hải, tuần du An Bang, đóng sáu sư dưới chân núi Truyền Đăng, mài vách đá, tạc thơ rằng :

Trăm dòng triều cuộn biển mênh mông

Thế núi xanh trời bát ngát trong.

Chợt nghĩ lòng trai nao chí lớn,

Tầm xa, quyền mạnh, kết tim hồng.

Hùng quân, xoay chuyển quanh thần Bắc,

Khói lặng, yên hàn chốn Hải Đông.

Non nước Thiên Nam vạn cổ đó,

Chính thời tinh võ trị văn hưng

IV - Lời bàn về phần dịch thơ.

Bài thơ luật đường mở đầu bằng 2 câu :

Cự tẩm uông dương triều bách xuyên,

Loạn sơn kỳ bố bích liên thiên.

Các bản dịch trước đây vẫn cho chữ “TRIỀU” không có ba chấm thủy nên dịch là “chầu về” (trăm sông chầu về). Nhưng “trăm sông chầu về” làm sao mà nước mênh mông được. Nay văn bản đã rõ ràng với chữ “TRIỀU” có ba chấm thủy nghĩa là “nước triều dâng”.

Đây được coi là cảm hứng của nhà vua khi đứng trước hàng trăm ngọn triều dâng dào dạt, mênh mông chẳng khác gì cảnh dân trăm họ (bách tính) sống giữa lúc đất nước thái bình thịnh trị, sôi nổi chăm lo sản xuất, xây dựng cuộc sống, phơi phới niềm vui.

Ngắm cảnh núi non bát ngát nhấp nhô như những quân cờ, đá xanh, cây xanh in lên nền trời thăm thẳm một màu xanh ngắt đến xa xôi vô tận như là một thế trận bày sẵn do thiên nhiên ban tặng cho ta. Nhà vua - nhà thơ đã hạ bút ghi 2 câu mở đầu:

Trăm dòng triều cuộn biển mênh mông

Thế núi xanh trời,bát ngát trong

Cái xanh trong bát ngát mới thanh bình làm sao! Với khí thế dân trăm họ mới sôi nổi biết bao.

Tiếp theo hai câu thực:

Tráng tâm sơ cảm, hàm tam cổ,

Tín thủ giao đề, tốn nhị quyền.

Hai câu thơ này khiến bao dịch giả đời sau lúng túng. Hai câu thực đối nhau thực chỉnh, chữ nghĩa thì rõ ràng. Nhưng khó là cái thực nhà vua lại đùng quẻ hàm ra ví von. Mà nói đến quẻ hàm là quẻ bói, đã là quẻ bói thì người dịch phải suy nghĩ sâu xa mới hiểu trúng ý tác giá được. Do vậy các nhà dịch giả từ xưa đến nay đều là các bậc thâm nho cả, nhưng mỗi người suy nghĩ một kiểu nên dịch khác hẳn nhau. Đâu mới là câu dịch chuẩn xác, chỉ có nhà thơ sống lại mới thấu hiểu được đầy đủ mà thôi. Do vậy tôi cũng xin đoán ý hai câu này và xin dịch như sau :

Chợt nghĩ: lòng trai nao nghiệp lớn

Tầm xa, quyền mạnh, kết tim hồng

Nói đến chữ “hàm tam cổ” là ta hiểu sự hoạt động còn đang ở mức bắp đùi. Nghĩa này được hiểu vậy là còn ở trình độ thấp. Là người đứng đầu đất nước, trước cảnh khí thế muôn dân sôi nổi phải biết nuôi chí lớn, đưa thế nước lên cao hơn. mạnh hơn mới được chứ. Đối với nhân dân ở miền xa xôi, ta phải với lòng khiêm tốn. thuyết phục họ chung lòng, chung sức, cùng xây dựng đất nước tiến lên. Người nắm quyền cai trị dù ở xa, ở gần phải có tấm lòng thân dân, vì dân, biết chăm lo cho dân mới được dân tin, dân phục, dân theo. Đó dường như là bài học sâu sắc cho những nhà cầm quyền ở các thời đại từ cổ chí kim vậy. Hai làn gió theo nhau là như vậy: người trên nói đầy thuyết phục, người dưới phải biết vâng theo.

Như thế là hai câu rất thực với thế nước lúc đương thời. Đó là cách dịch phù hợp với câu chữ đó, giữ được ý tứ, chữ nghĩa không bị sai lệch.

Tiếp theo hai câu luận:

Thần Bắc khu cơ sâm hổ lữ,

Hải Đông phong toại tức lang yên.

Hai câu luận là câu đánh giá tình hình đất nước lúc đó.

Như là ngôi sao Bắc Đẩu có bày sao đi theo. Tại chốn kinh thành Bắc, nơi đức vua đang ngự trị cũng có đội quân hùng mạnh, bảo vệ vững chắc không có điều gì phải e ngại cả. Đội quân sẵn sàng tuân theo lệnh vua ban, đi bất cứ nơi nào, ở bất cứ nơi đâu.

Còn ở miền Đông Hải là cửa ngõ đường biển, bọn xâm lược nhiều phen đi vào nước ta nhòm ngó. Nhưng từ lâu nay, đài lửa báo động có giặc giã hầu như cũng tắt khói. Theo sử sách thì trong vòng 40 năm, dân đang hưởng thái bình. Ta không được lơ là luôn luôn phải cảnh giác. Vậy hai câu sau này xin dịch là:

Hùng quân, xoay chuyển theo Thần Bắc

Khói lặng, yên hàn chốn Hải Đông

Như vậy là phù họp với ý thơ.

Trước hiện trạng đất nước đang an hưởng thái bình thịnh trị, vậy ta phải làm gì? Hai câu kết của bài thơ, nhà vua viết:

Thiên Nam vạn cô hà sơn tại,

Chính thị tu văn, yến vũ niên.

Đất nước từ xưa đên nay, tổ tiên vân giữ vững và bảo tồn. Nay giao cho Thiên Nam quản lý. Thiên Nam là biệt hiệu đức vua.

Lúc này đất nước đã hòa bình, phải lo sắp xếp lại việc võ bị cho phù hợp với hoàn cảnh mới. Bên cạnh đó, phải coi trọng đề cao việc văn trị nhằm xây dựng thế nước lâu dài, xây dựng Luật pháp để giữ vững kỷ cương phép nước, mở mang việc học hành để nâng cao dân trí và thúc đẩy kinh tế để ổn định đời sống nhân dân.

Hai câu này khi dịch cần lưu ý chữ Thiên Nam là tên hiệu của đức vua thời đó, khi dịch vì là danh từ riêng nên phải để nguyên. Còn về thành ngữ của Trung Quốc “tu văn yển vũ” nếu để riêng thì nghĩa là “xếp võ dựng văn”. Nhưng nhà thơ sử dụng thành ngữ này trong bải thơ, ta phải suv xét xem nhà thơ muốn đề cập đến ý nào. Vì bài thơ đã nói rõ sau khi đã tập trận ở Bạch Đắng và kinh thành Bắc có đội quân mạnh bảo vệ nên ta dùng chữ xếp võ là sai hoàn toàn với ý tứ của bài thơ này. ở đây, nhà thơ muốn nói ta đang chuyến sang thời bình thì việc võ phải sắp xếp lại cho phù hợp với thế thời mới, phải lo chỉnh đốn lại đội ngũ, bố trí sắp xếp cho hợp lý. Lúc này ta cần “tinh võ” mới phù hợp. Tầm nhìn của nhà vua thật xa rộng. Từ xưa tới nay giặc xâm lấn Việt Nam bằng đường thủy qua sông Bạch Đằng, nay tuy thái bình đã được 40 năm nhưng nhà vua vẫn đích thân dẫn quân ra luyện tập trên sông Bạch Đằng để không gặp bất ngờ, nếu giặc lại mon men nhòm ngó nước nhà. Đó là điều nhắc nhở cho con cháu muôn đời sau. Nay Biển Đông đang nổi sóng, đọc lại thơ Lê Thánh Tông ta càng thấy tinh võ thời nay là vô cùng quan trọng. Phải xây dựng lực lượng thủy quân hùng mạnh và tinh nhuệ có đủ tàu ngầm, tàu chiến, máy bay, tên lửa hiện đại. Việt Nam ơi, hãy luôn luôn nhớ lấy lời căn dặn của cha ông từ hơn 500 năm về trước nhé.

Nhà vua tuổi đời mới có 26 mà đã thấy rõ trách nhiệm của người đứng đầu đất nước, thống lĩnh quân đội, thân chinh dẫn quân đi tập trận ở chính những nơi cha ông xưa đã đập tan quân xâm lược. Đó là Bạch Đằng giang lịch sử.

Câu kết của bài thơ này xin dịch là :

Non nước Thiên Nam còn mãi đó

Chính thời tinh võ, trị văn hưng

Đó là những suy ngẫm của tôi về dịch bài này. Kính mong các thi hữu cho ý kiến bổ sung để bài dịch được hoàn chỉnh hơn.

                                         Vũ Anh Tuấn

                                       20 - 06 - 2017

                                                                                     (Sưu tầm, nghiên cứu và dịch thuật)

Tác giả bài viết:

 

Bản quyền website thuộc về Công ty TÁC PHẨM MỚI.

Website đang làm thủ tục cấp phép, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên.