Đọc và chia sẻ

Lê Khánh Mai:
Thơ Lê Tuân- những ánh sáng khác lạ

(Ngày đăng: 4/4/2018 18:24)

     Tập thơ có cái tên đẹp: “Nghi lễ của ánh sáng”, gợi lên một không khí thiêng liêng, huyền bí và ám ảnh đã cuốn hút tôi mê mải trong thế giới nghệ thuật lấp lánh những ánh sáng khác lạ của thơ Lê Tuân. Ông thuộc thế hệ nhà thơ 5x, thế hệ góp phần cùng với thế hệ nhà thơ 6x, 7x, 8x đổi mới thơ Việt Nam sau năm 1975. Được biết, trước “Nghi lễ của ánh sáng” ông đã xuất bản 2 tập thơ: “Đi mãi không thôi” và “Một nơi”, viết theo phong cách truyền thống, nhưng Phải đến tập thơ thứ ba này ông mới tìm được đúng chất giọng của mình.


 Bài viết của Nhà thơ Lê Khánh Mai, Hội Nhà văn Việt Nam.

(Đọc tập thơ “Nghi lễ của ánh sáng” của nhà thơ Lê Tuân, Nxb Hội Nhà văn 2017, Tặng thưởng Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh 2017)
 
1. ÁNH SÁNG CỦA MỘT QUAN NIỆM THI CA 
Tôi có thói quen, khi đọc bất kỳ tập thơ nào, trước tiên, tôi tìm những câu thơ chứa đựng chỉ dấu về quan niệm nghệ thuật của tác giả, vì tôi tin, đó là chiếc chìa khóa có thể mở ra bí mật đằng sau những con chữ. Với “Nghi lễ của ánh sáng”, người đọc không dễ dàng tìm thấy ngay một quan niệm nghệ thuật, bởi nhà thơ khá kín đáo trong biểu đạt. Tôi đọc đi đọc lại 54 bài thơ trong tập, và may thay, tôi đã thực sự vui mừng khi chiếm lĩnh được chiếc chìa khóa ấy. Nhà thơ Lê Tuân đã rất thành thực và thấu đáo khi nói lên quan niệm của mình về nghệ thuật thi ca với nhiều trải nghiệm, trăn trở suốt quá trình sáng tác.
Trong bài thơ “Con chim thi ca đến đậu”, ông viết:
giữa trời đêm 
biết bám vào đâu
chợt con chim thi ca đến đậu
Khi con người khổ đau, tuyệt vọng, bế tắc, mệt mỏi rã rời, không nơi bấu víu, đã buông câu, đã đầu hàng số phận: “Ngồi bên cầu Nại Hà từ sáng/ chẳng thấy phép màu/ đến chiều lại câu được một du tang” thì bất ngờ con chim thi ca đến đậu. Thi ca đã xuất hiện đúng lúc, giữa trời đêm để thực thi vai trò giải thoát, khai ngộ, cứu rỗi con người và hoán đổi hoàn cảnh. Con chim thi ca là biểu tượng của nghệ thuật. Nó được sinh ra để vực dậy những linh hồn bơ vơ đang loay hoay giữa lằn ranh bóng tối và ánh sáng, sự sống và cái chết, tồn tại và hủy diệt. Phải chăng đây chính là tuyên ngôn của nhà thơ về sứ mệnh của thi ca.
Quan niệm thi ca của nhà thơ Lê Tuân được thể hiện rõ rệt hơn trong bài thơ “Rừng tôi một đóa”: 
hãy đến rừng - tôi - một - đóa nở hoa
sau nghi lễ của ánh sáng
thi nhân để lại ngai vàng trên cỏ
Một đóa thơ đã nở trong cánh rừng thơ Lê Tuân. Dường như ông đã thốt lên nỗi reo mừng trước thành quả thi ca của mình và chân thành mời mọc người tri kỷ, tri âm hãy bước vào cánh rừng thơ. Nơi ấy ông đã đổ bao công sức: “Vâng/ tôi chăm sóc rừng tôi một đóa/ em nở hoa/ ta cùng chăn đồi gió… Hãy đến rừng tôi một đóa mà nở hoa/ nơi ấy/ tôi nói yêu em”. Nhà thơ đã khẳng định sức mạnh, quyền năng của thi ca và vị trí của nhà thơ. Ông quan niệm, thi nhân cũng là vua nhưng là vua của ngôn từ. Thi nhân cũng có ngai vàng, nhưng ngai vàng ấy không 
ở trên cao mà được đặt dưới mặt đất, lãnh địa của cỏ, nơi tồn sinh của muôn kiếp người. Trên cái ngai vàng ấy, thi nhân đã dâng hiến ngọn lửa sáng tạo, đã cháy hết mình trong nghi lễ thiêng liêng, đã hóa thân trong tình yêu vĩnh cửu: “Tôi dìu trăng lên, thắp nghìn cây nến trắng bằng ánh mát sông dài và bằng giai âm núi thẳm, mỗi hiến dâng là một lần hóa thạch, mỗi sợi tóc mềm còn róc rách trong đêm”. Đó là một quan niệm nghệ thuật của muôn đời, đầy tính nhân văn.
Ở một bài thơ khác: “Bạn với nhau khó thế”, thêm một lần nhà thơ khẳng định sứ mệnh của nghệ thuật là kết nối những tâm hồn con người. Bao lữ khách cùng bước đi trên con đường dài mỏi mệt, không có chiếc cầu, không một áng mây, lặng lẽ, cô độc, giữa họ là những hố sâu cách biệt. Đến nỗi, con đường cũng phải thốt lên “Sao các người làm bạn với nhau khó thế”. Chính lúc ấy, âm nhạc đã cất lên, nghệ thuật xuất hiện đã liên kết những tâm hồn đơn lẻ tạo nên sức mạnh: “tôi có mang âm nhạc theo đây/ hãy hát lên/ thế nhé/ nơi này
Không dừng lại ở đó, Lê Tuân đã khiến tôi bất ngờ, khi bắt gặp bài thơ “Đùa dai”. Bằng lối diễn đạt tinh tế, kín kẽ, pha chút hài hước nhẹ nhàng, ông đã chỉ ra một số “kiểu” nhà thơ hiện thời, như: Kiểu nhà thơ cô đơn, một mình một cõi riêng, không chấp nhận ai: “Mãi/ cô đơn/ vì chưa tìm thấy người cô đơn cùng mình”; Kiểu nhà thơ đi tìm thần tượng để bắt chước: Mãi/ tìm một ai đó để giống/ rồi ai sẽ sống với ai. Và Lê Tuân tự nhận mình là kiểu nhà thơ từng trung thành với phong cách truyền thống: “Có lần tôi đùa dai/ vẫy chiếc gậy tù trưởng/ chỉ về thời cổ đại”. Ông bộc bạch về thi pháp sáng tác thơ quen thuộc mà ông vận dụng trong quá khứ, qua đó ngầm nhắn nhủ rằng, ông muốn viết khác trước, muốn làm mới mình. Đây là một “điểm nhấn” rất đáng lưu ý trong quan niệm sáng tác của nhà thơ Lê Tuân. Còn có kiểu nhà thơ, vẻ ngoài tỏ ra vẫn tán thành cái cũ nhưng họ đã âm thầm đổi mới và đã gặt hái được những mùa hương: Mọi người còn đùa dai hơn tôi/ mắt vờ sợ hãi đêm trường/ chân bước về phía rừng hoa ngát hương.
Có thể nói, bài thơ “Đùa dai” đã chạm đến phẩm chất nghệ sĩ, đó là tài năng, tâm huyết, trí thông minh, giàu trải nghiệm, vượt lên thời gian, tìm tòi đổi mới, không ngừng dấn thân cho sáng tạo vì một nền thơ đa phong cách.
Phải là một thi sĩ đích thực, trăn trở với nghiệp thơ mới thẩm thấu được bản chất của nghệ thuật sâu sắc đến vậy. Với những triết luận về thi ca và nghệ thuật như thế, nhà thơ Lê Tuân đã đĩnh đạc bước trên con đường thơ bằng trái tim thắp lửa, soi rọi thế giới nội tâm con người, khám phá những tầng không gian mới với khát vọng mang những ánh sáng thiêng của thi ca đẩy lùi bóng tối.

2. NHỮNG KHÔNG GIAN KHÁC LẠ 
Điều dễ nhận thấy ở thơ Lê Tuân là cách đặt tên cho các bài thơ rất lạ lùng, độc đáo, dường như không trùng lặp với thơ của người khác. Ví dụ như: “Ngóng tìm tiếng hạc gọi bầy”, “Bên hồ dã du”, “Dưới chân người bất tử”, “Người nghiện ngập trần gian”, “Tiếng cụng ly ngàn năm tuổi”, “Trái tim của gió”, “Vương quốc vô thể”, “Mai táng cả dòng sông”, “Trái đất hình vô tội”, “Say khướt thiên đàng”, “Chìa khóa mộng”…
Cách đặt tên bài thơ “không giống ai” của nhà thơ Lê Tuân, không chỉ nói lên ý thức sáng tạo, ý thức làm mới thơ rất đáng trân trọng, mà, qua đó dựng nên những không gian khác, chứa đựng nhiều mật mã về ý tưởng, khích lệ người đọc tự mở cho mình một lối đi để tiếp cận giá trị nghệ thuật, phát huy khả năng tưởng tượng và đồng sáng tạo với nhà thơ. Đây là điều rất thú vị và hấp dẫn.
Thơ Lê Tuân hầu như bỏ qua những không gian quen thuộc vẫn thường hiện hữu và hiếm khi xuất hiện đời sống thường nhật, nhưng cũng không quá ảo diệu, xa vời, mung lung, bí hiểm. Thơ ông đi trên đường biên giữa hiện thực và siêu thực, đôi khi xáo trộn thực hư, làm hiện ra những những hoàn cảnh lạ lẫm, những trạng thái tinh thần khác biệt. Đó là cách nhà thơ thử thách chính mình trong việc thiết lập thi pháp sáng tạo riêng, tránh được những lối mòn.
Không gian trong thơ Lê Tuân rất đa dạng, có không gian trần thế và siêu trần thế, không gian vật lý và không gian tâm tưởng, không gian ảo và không gian tâm linh… nhưng hầu hết không phải là không gian định vị và sao chụp.
“Chỗ khuất” là bài thơ đầu tiên của tập thơ. Phải chăng sự sắp đặt này có dụng ý nghệ thuật? Chỗ khuất là chỗ không dễ nhìn thấy và nhà thơ muốn gửi gắm ý tưởng: không viết về những hiện thực phơi bày trần trụi, dễ dàng tiếp cận mà viết về không gian trong trong suy tưởng do ông dựng lên, qua đó người đọc có thể tìm thấy mối liên hệ với cuộc đời trần thế. Tưởng tượng được vận dụng với tần suất cao, tạo nên hiệu ứng kép, vừa là phương tiện, vừa là mục đích nghệ thuật, cuốn hút mạnh mẽ người đọc.
Một vị vua/ một tôi bộc/ cùng ẩn nấp một nơi sao chưa nhận ra nhau 
Một chỗ khuất/ một vết thương/ mang mũi tên đi đâu mà đầu đường cuối nẻo: 
Chiếc xe song mã/ một con ngựa kéo/ mảng trời chiều xiêu vẹo sao chưa thấy ai thay
Lửa cháy muôn nơi/ ngựa hí vang trời/ ai tìm ai mà ngàn bể với non khơi
Chỗ khuất vốn được con người chọn làm nơi nương náu, khi trốn chạy những cuộc truy lùng, khi sa cơ, thất thế không còn chốn dung thân. Rơi vào cảnh ngộ bi thảm ấy, thì bất kể, vị vua hay tôi bộc, kẻ sang hay người hèn, từ hai đối cực, phút chốc trở nên “bình đẳng” trong thân phận nạn nhân của thời cuộc, như những quân cờ đã bị hất khỏi bàn cờ khi tàn cuộc chơi, dù họ không thể nhận ra nhau. Chỗ khuất đã chỉ cho ta thấy bản chất của đời sống xã hội, thân phận con người trần thế cùng những nghịch lý vẫn hiển nhiên tồn tại. 
Trong cái không gian kín đáo, nhỏ hẹp ấy, quá khứ, hiện tại và tương lai đồng hiện. Quá khứ là dư ảnh về cuộc chiến tranh ly loạn với gươm giáo, vết thương, ngựa hí, cỗ xe song mã … ít nhiều mang bóng dáng lịch sử. Hiện tại là cuộc trốn chạy cô độc, bế tắc của những sinh phận trong cõi đời mong manh, bất trắc và tương lai là những câu hỏi xoáy sâu, âm thầm, nhức nhối, trĩu nặng ưu tư, không lời giải đáp. Đó là hiện thực trong góc khuất, được nhà thơ thẩm thấu, đúc kết mang tính khái quát cao.
Thơ Lê Tuân hướng nhiều hơn đến những không gian siêu trần thế. Ông xót xa, thương cảm những hồn oan, bơ vơ nơi “Vương quốc vô thể”, mắc kẹt trong ảo giác tìm về cõi sống trần gian: 
“Làm gì còn tên ở chốn đa đoan mà vội đứng canh đêm tối, nhà ai lên đèn.. giờ đã chết rồi thôi không chết nữa, vết thương nơi ấy lành chưa mà buồn, họ tắm nỗi đau bên dòng suối muộn, đọc cho nhau nghe bài thơ tình thủy dạ, ôi trắng muốt một làn da, lửa những ngàn năm xa tan ra thành gió”. 
Những câu thơ ru mãi hồn oan mà cũng là lời an ủi kiếp người trong chốn đa đoan, dâu bể mà mong tìm được sự an lạc trong cõi về.
“Hiệp khách” là bài thơ đậm chất liêu trai. Trên đường trở về quê hương, hiệp khách dừng quán cô liêu, lần theo mùi hương lạ: 
“lạc vào khu mộ gió/ ồ vô vàn kiếm đao, cung nỏ/ cũ mới thỏ thẻ nỗi đau/ những gươm giáo vạn năm nhận ra nhau/ chúng mừng/ khóc. 
Ta như nghe thấu nỗi đau của linh hồn muôn kiếp trong tiếng thì thầm trò chuyện, khóc cười của các loại vũ khí một thời được con người sử dụng để giết chóc, sát phạt nhau, trải bao gió bụi thời gian vẫn chưa phai màu oan khuất.
Không gian tâm linh được dựng lên khá nhiều trong “Nghi lễ của ánh sáng”. Đó là sản phẩm của tưởng tượng, chắt ra từ những ám ảnh tâm thức, làm nên nét riêng trong thế giới thẩm mỹ của Lê Tuân. Ông đã không ít lần trò chuyện với hồn ma bóng quế một cách “bình đẳng”, thân thiện. Hồn ma cũng từng rủ rê, gạ gẫm, khuyên nhủ ông: 
“Này đừng nghĩ nhiều về đi hay ở, hãy theo ta để hết lại đây những gì đời có, kìa, thấy chưa, xa xưa đó…/ Thôi, nghĩ ngợi làm gì chuyện vui buồn đã có gió mây bay”.
Lạc vào chốn không gian vô thường, nhập nhòa hư thực, lẫn lộn giữa khả tri và bất khả tri ấy, thơ Lê Tuân đã chạm đến những khoảnh khắc huyền bí, siêu phàm, mê mị, để rồi tỉnh ngộ trở lại với “sự biết”: 
“Vâng/ tôi sẽ đi nhưng chẳng phải lúc này/ người là ai”. (Chẳng phải lúc này).
Hướng nhiều đến không gian tâm linh, thơ Lê Tuân vì thế mà mang đậm chất chất siêu thực. Bài thơ “Ngóng tìm tiếng hạc gọi bầy” là một bức tranh ảo mị về chốn phiêu bồng, đẹp, lãng mạn, thánh thiện. Ở đó, những linh hồn lạc nhau từ ngàn năm trước đã tìm đến nhau chuyện trò, nhắn nhủ về thế giới linh thiêng nối dài sau kiếp sống trần gian: 
“Người tìm gì mà ngơ ngác trên đỉnh núi, không thấy em đang đứng đây sao
hoàng hôn xuống rồi, hành lý người đâu, đêm nay em sẽ mặc áo thiên nhiên, thắt lưng bằng giải lụa và múa hát bên bờ nước Chúa, hãy về chỗ em mà nghỉ chân, đừng đi đâu cả/… Người đứng chi đây mà sầu tủi, một mình em sao cứu nổi cuộc vui, đừng mang im lặng chất đầy lên thuyền trăng nữa, đã non cao biển mặn 
rồi, em mong mạnh nhỏ bé, mang đi đâu xa thế, không sợ vỡ sao”.
Và còn nhiều nữa những cuộc “hội ngộ” của những linh hồn bất tử “Bên hồ dã du”, nơi đền miếu quạnh hiu, ở “Bên kia trời” hay trong “tiếng cụng ly ngàn năm tuổi”.
Thơ Lê Tuân đã hướng đến những tầng không gian khác lạ bằng những hình ảnh đẹp, những con chữ có linh hồn, chất chứa, dồn nén cảm xúc nhưng vẫn nhẹ nhàng, nho nhã, bàng bạc khói sương, hư ảo mà vẫn đầy triết luận thâm sâu.
 
3…VÀ TRIẾT LUẬN
Hiện thực trong thơ Lê Tuân là hiện thực của suy tưởng. Chất suy tưởng, chiêm nghiệm là điểm mạnh của ông và điều đó đã làm nên mảng thơ triết luận, góp phần nâng cao chiều kích nghệ thuật của tập thơ.
Tính triết luận trước hết thể hiện ở giọng độc thoại, truy vấn, hoài nghi, sám hối, sử dụng lập luận bằng những cặp phạm trù đối lập đan cài trong nhiều bài thơ; Cùng ẩn nấp một nơi sao chưa nhận ra nhau/…Mang mũi tên đi đâu mà đầu đường cuối nẻo/…Ai tìm ai mà ngàn bể với non khơi (Chỗ khuất). Bóng tối/ cô đơn/ nỗi buồn/ còn nơi nào chưa có (Nơi đâu cũng có). Lữ khách ơi/ sao các người làm bạn với nhau khó thế (bạn với nhau khó thế). Chết và sống là một hay hai/ tôi đang ở với ai hay chỉ tồn tại (Từ xưa hay chỉ mới hôm nay)… Hầu hết những câu hỏi nêu ra đều không có câu trả lời mà như đã trả lời đã tác động mạnh mẽ vào tư duy của người đọc.
Ngẫm về quy luật mạnh yếu, còn mất, ông viết: 
Ở rất gần hơi thở/ ước mơ, phải chết đi để sống
Ở rất gần dòng sông/ cây/ cũng gầy như mùa đông
Ở rất gần xích đạo/ trăng phải đóng băng để sáng dần
Ở rất gần thiên thần/ mây/ có khi cũng xám…
Trong những hoàn cảnh khắc nghiệt, mọi sinh thể đều phải tự thay đổi để thích nghi và tồn tại. Trong cuộc đổi thay ấy phải chấp nhận thua thiệt, đớn đau như một cuộc lột xác, nhưng tránh được sự đào thải, tìm cơ hội mà vươn ra ánh sáng.
Thơ triết luận nhận diện nỗi buồn, nỗi cô đơn như một thuộc tính của con người. Cô đơn giữa những điều tưởng như quen thuộc , gần gũi, thân thương nhất nhất: “Buồn/ như biển rộng/ bao giờ cánh cổng nhận ra tôi” (Trong nhà hay ngoài ngõ). “Chợt trở thành người lạ/ trên vùng đất thân quen/ khán giả hồng hoang và sân khấu không đèn”. 
Con người bơ vơ, đắm chìm trong nước mắt vì không tìm được chân lý: “cả 
thế giới cùng khóc/ vì đọc những cuốn sách quá khác nhau” Và hệ lụy của sự bế tắc đó là của sự đánh tráo những giá trị “Trong thế giới ma quỷ/ cái ác là điều thiện (Từ xưa hay chỉ mới hôm nay). Từ những bi kịch đời sống, thơ Lê Tuân triết luận về kiếp người ngắn ngủi, mong manh, đáng thương: “Xưa/ ta buồn/ chỉ vẽ mấy giọt mưa tuôn/ giễu cợt nhau để giễu cợt mình/ giờ đã thành vô minh sóng bạc đầu viễn xứ (Con người già nhanh quá). Và, ngộ ra sự thật đắng cay: “Thắng để làm gì/ khi ham muốn cao cả nhất/ giờ cũng không còn thật/ đã cháy rụi cả rồi (Thắng để làm gì). Tất cả rồi trở về cõi không, điều tưởng như đơn giản, ai cũng hiểu, nhưng người ta chỉ thực sự ngộ ra bằng trải nghiệm của chính cuộc đời mình.
 
4. LỜI KẾT
“Nghi lễ của ánh sáng” là tập thơ nhiều tín hiệu thẩm mỹ. Với không gian đa chiều, tưởng tượng phong phú, giàu triết luận, bứt phá trong sử dụng ngôn từ và biểu đạt, nhà thơ Lê Tuân đã thể hiện khuynh hướng cách tân thơ rõ rệt 
Ông thuộc thế hệ nhà thơ 5x, thế hệ góp phần cùng với thế hệ nhà thơ 6x, 7x, 8x đổi mới thơ Việt Nam sau năm 1975. Được biết, trước “Nghi lễ của ánh sáng” ông đã xuất bản 2 tập thơ: “Đi mãi không thôi” và “Một nơi”, viết theo phong cách truyền thống, nhưng Phải đến tập thơ thứ ba này ông mới tìm được đúng chất giọng của mình. 
Cách tân thơ, Lê Tuân không sa vào cầu kỳ bí hiểm, nên người đọc có thể tiếp nhận thơ ông một cách tự nhiên. Thơ ông tác động vào tư duy, vào những vùng tưởng tượng ẩn khuất, nhưng vẫn níu về phía tình đời thênh thang. Là một nhà thơ dấn thân trong sáng tạo, Lê Tuân tôn trọng sự khác biệt, ông đã mạnh dạn từ bỏ cách viết cũ trong quá khứ để làm mới mình. Và hạnh phúc biết bao khi ông đã tìm được mình đích thực: “Cám ơn huyền bí đã mềm mại tôi” (Erato). Sự huyền bí ấy chứa đựng những mật mã thơ, dẫn dắt người đọc trở về với những điều bình dị mà thiêng liêng nhất: “Trên bàn thờ nhân gian chỉ yêu thương còn sót lại (Một nơi hiu quạnh)
Nha Trang, tháng 3 năm 2018

Tác giả bài viết: Lê Khánh Mai

 

Bản quyền website thuộc về Công ty TÁC PHẨM MỚI.

Website đang làm thủ tục cấp phép, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên.