Đọc và chia sẻ

Viết về tiểu thuyết SẬP HẦM của Nguyễn Cao Thâm

(Ngày đăng: 1/6/2018 22:29)

     Nhà văn - Nhà báo Nguyễn Cao Thâm còn có các bút danh: Minh Cao, Cao Minh, Minh Hoa…; sinh năm 1957, tại Hồng Thành, Yên Thành, Nghệ An, hiện sống tại Hà Nội; từng làm công nhân, sau đó là chỉ huy sản xuất mỏ hầm lò, dạy học, cán bộ kế hoạch, tiền lương, gác kho thuốc nổ; 20 năm làm Phó Tổng Biên tập cho các báo, tạp chí trung ương và địa phương; đã xuất bản 14 tập sách với các thể loại: Tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự, kịch bản sân khấu và phim truyện. Sập Hầm là tiểu thuyết thứ 6 của ông.


 Những tín hiệu cảnh báo từ lòng đất và lòng người

 

(Đọc tiểu thuyết “Sập hầm” – Nguyễn Cao Thâm – Nxb. Hội Nhà văn, 2018)

Phong Nhi

Trong tâm thức của mỗi nhà văn luôn có một “vùng đất” mà mình am tường nhất, gắn bó nhất, ưu ái và trân trọng nhất. Vùng đất ấy có thể là một địa danh cụ thể, cũng có khi chỉ là một lãnh địa trong tâm tưởng, nhưng luôn luôn là nơi gợi nhiều cảm hứng và trăn trở cho những sáng tác của người cầm bút.

Nhìn vào chặng đường lao động sáng tạo của nhà văn Nguyễn Cao Thâm, ít người có thể hình dung được kể từ khi xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tiên (năm 1990) đến nay, ông vẫn luôn chung thủy với đề tài vùng mỏ. “Sập hầm” là tiểu thuyết thứ sáu của Nguyễn Cao Thâm. Chỉ riêng nhan đề của tác phẩm đã gợi nên trong tâm trí người đọc biết bao nhiêu hình dung về những vụ tai nạn hầm lò đã từng được nghe, được xem trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đọc các tác phẩm của Nguyễn Cao Thâm, người đọc nhận thấy dường như ông sinh ra để viết về nơi cung cấp những khối “vàng đen” cho đất nước. Đất và người vùng mỏ hiện lên trong các trang viết vô cùng sinh động với đầy đủ hình khối, màu sắc, đường nét, tính cách, thậm chí cả những xung đột, mâu thuẫn giữa những con người nơi đây cũng rất đậm bản sắc của người thợ lò. Ở cuốn tiểu thuyết này, tất cả những sự kể, tả rườm rà đều bị lược đi, tác giả tập trung cao độ vào việc đặc tả tính cách nhân vật và đặt họ vào những tình huống điển hình, để họ bộc lộ tất cả bản chất tốt – xấu của mình một cách tự nhiên. Họ không hề che giấu bản năng về những nhu cầu: ăn uống, yêu đương, và trong hoàn cảnh nhất định, cái bản năng nhân văn, biết yêu thương đồng loại, xót xa cho thân phận con người của họ cũng không kém phần mạnh mẽ.

Cuốn sách không được phân định các phần bằng cách đánh số chương như thường thấy, mà ở mỗi chương lớn lại được chia ra từng câu chuyện nhỏ và đặt tiêu đề cho mỗi đoạn. Phần đầu của chương I tác giả giới thiệu từng nhân vật qua cách miêu tả rất sinh động về hình dong và tính cách : ông thợ bậc sáu Thạch Ngầu, anh thợ lò Văn Chèo, kỹ sư Nhật, ông giám đốc mỏ Văn Văn, bảo vệ Lùng... Mỗi người một tính cách, một xuất thân khác nhau nhưng đều quy tụ về vùng mỏ Dương Sơn để làm việc cùng nhau trong điều kiện khắc nghiệt. Bên cạnh những người tha thiết gắn bó với vùng đất này như máu thịt, muốn cống hiến hết tài năng và tâm huyết của mình cho sự phát triển chung thì cũng có những kẻ tham lam, thiển cận, luôn tìm cách vơ vét tài nguyên để thỏa mãn dục vọng của riêng mình. Nếu giám đốc Văn Văn sẵn sàng chịu nhận hình thức kỉ luật bãi nhiệm và chuyển công tác chỉ vì quyết định mua bốn chục chiếc xe tải giá rẻ khi chưa qua thủ tục đấu thầu như quy định thì anh thợ lò Văn Chèo lại dùng mọi thủ đoạn để có thể khai thác và tiêu thụ than “thổ phỉ”, làm thiệt hại kinh tế cho Nhà nước và tàn phá môi trường không thương tiếc. Không chỉ gây tổn hại về tài nguyên thiên nhiên, Văn Chèo còn dùng tiền bạc, quyền lợi để lôi kéo những kĩ sư giỏi, những thợ lò tay nghề cao ra khỏi cơ quan Nhà nước đến làm thuê cho mình nhằm khai thác được nhanh hơn, nhiều hơn nguồn than tưởng như vô tận trong lòng đất. Khi công ty than “thổ phỉ” của Văn Chèo càng phát đạt thì mối hiểm nguy rình rập trên đầu càng hiện hình rõ nét: sự an toàn trong sản xuất bị bỏ qua và cứ dần rơi vào vòng xoáy tham lam, quanh quẩn.

Tác giả rất khéo léo khi đưa câu chuyện phát triển theo vòng xoắn trôn ốc từ nhỏ lên to, từ thấp lên cao, từ đời sống của những cá nhân đến sự sụp đổ của một hệ thống, và cao trào của tất cả những mâu thuẫn là “sập hầm”. Thời điểm xảy ra sự cố hầm lò bị sập rơi vào đúng những ngày cuối năm, khi mọi người đều muốn trở về với tổ ấm của mình, người gặp nạn thì nhanh chóng tìm cách tháo chạy, người chưa “dính” nạn cũng không có tâm thế “sống chết cùng nhau” để cứu hầm lò của ông chủ. Chỉ còn anh giám đốc ít học, thô lậu và hay bốc đồng Văn Chèo loay hoay chống đỡ để toàn bộ số vốn liếng đầu tư không bị chôn vùi dưới lòng đất. Anh ta cầu viện đến kĩ sư Nhật và ông Thạch Ngầu (những người am hiểu nhất về đặc điểm địa chất và những đoạn nguy hiểm trong hầm), cùng với Đang – cậu em họ chịu nhiều ơn nghĩa của Văn Chèo. Mặc dù năm hết tết đến, nhưng họ vẫn đến để tìm cách “cứu” lò than. Và định mệnh đã đẩy họ vào tình cảnh không lối thoát: chỉ vì hành động ngu ngốc dùng choòng chọc vào nóc lò của Văn Chèo khiến khối đất đá đổ sập xuống, chân anh ta bị hòn đá to đè lên không thể rút ra được, ông Thạch Ngầu đành nghiến răng dùng búa chém chặt đứt cẳng chân rồi cõng anh ta chạy khỏi chỗ chết. Đó là vụ sập hầm thứ nhất. Cùng lúc, cách đó vài trăm mét ở phía bên ngoài, ba người khác cũng tự đẩy mình rơi vào cảnh bị chôn vùi: ông giám đốc sở Lê Quán, cô nhà báo Hồng Ngọc (cũng chính là bồ nhí của ông Quán) và tài xế Ca. Thảm thương hơn những nạn nhân của vụ sập hầm thứ nhất, ba người này vì thói độc tài, sự thiếu hiểu biết, quá tham vọng và lại tráo trở, lật lọng khi gặp nguy nan nên đã tự chôn mình trong “ngôi mộ to nhất thế giới” trước khi lực lượng cứu hộ tiếp cận được.

Nếu ai chưa từng đi thực tế ở vùng mỏ, chưa trực tiếp chui vào những hầm lò nằm dưới mực nước biển hàng trăm mét thì thật khó tưởng tượng nổi về cái thế giới sâu hút trong lòng đất ấy. Khi đi vào lòng đất để làm việc, mỗi người thợ lò hay các kĩ sư ngoài sức khỏe vốn có và kiến thức được trang bị, họ cần phải có ý thức rất cao về kỉ luật, kể cả kỉ luật của tình yêu thương. Chính vì thế, trong hoàn cảnh lao động ngặt nghèo như thế, họ không có sự thể tất nào cho thói tùy tiện vô lối, bởi chỉ một hành vi sơ sẩy là có thể phải đánh đổi bằng cả tính mạng của chính mình và đồng nghiệp. Mỗi hành động cụ thể của người thợ lò sẽ tác động đến toàn bộ hệ thống hầm lò, cũng như khi phóng chiếu từ đó ra ngoài đời sống xã hội, mỗi việc làm của từng cá nhân sẽ gây ảnh hưởng tốt/ xấu đến một quốc gia, một châu lục và cả địa cầu này. Thế giới sẽ không thể cân bằng và bình an khi mọi giá trị bị đảo lộn. “Sự tiến bộ của khoa học công nghệ mang lại nhiều tiện ích cho con người nhưng coi chừng, nó sẽ phản lại con người...” là lời cảnh báo của kĩ sư Nhật trước những thực tại mình chứng kiến hàng ngày.

Nhà văn Nguyễn Cao Thâm chia sẻ: “Cuốn tiểu thuyết “Sập hầm” tôi lấy chất liệu từ những vụ cứu hộ sập hầm mỏ mà tôi đã chứng kiến. Qua cuốn tiểu thuyết này, tôi muốn gửi tới bạn đọc thông điệp: những thảm họa thiên nhiên trên thế giới là kết cục về dục vọng tham lam vô độ của con người. Tôi tin rằng, dục vọng của mọi cá nhân cũng như dục vọng của mọi quốc gia sẽ bị trừng phạt vì sự tàn phá điên cuồng của họ, dẫn đến sự sụp đổ lớn hơn, tai họa với loài người khủng khiếp hơn! Chỉ có sự kiềm chế dục vọng và nảy nở tình yêu thương giữa con người với con người mới cứu được thảm họa thế giới.”

Bạn đọc sẽ còn mong muốn được biết nhiều hơn nữa về những góc khuất của ngành than, những khoảng lặng trong lòng người đất mỏ qua từng trang viết của các nhà văn hiện đang “khai thác” đề tài này. “Sập hầm” có thể mới chỉ đáp ứng được phần nào những mong đợi đó, nhưng lại là phần quan trọng nhất để người đọc bước vào tìm hiểu thế giới trong lòng đất và lòng người...

(Theo Báo Văn Nghệ, số 22/2018)

 

 

Tác giả bài viết: Phong Nhi

 

Bản quyền website thuộc về Công ty TÁC PHẨM MỚI.

Website đang làm thủ tục cấp phép, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên.